NGHI THỨC TỤNG KINH VU LAN BÁO HIẾU
(Thắp 3 cây hương, quỳ ngay thẳng, cầm hương ngang trán niệm lớn bài Cúng Hương)
CÚNG HƯƠNG
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ-TÁT MA-HA-TÁT. (3 lần)
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu.
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu.
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ-TÁT. (3 lần)
Phật nói Kinh Vu Lan Bồn
(Tây Tấn, Nguyệt Thị Tam Tạng Trúc Pháp sư Trúc Pháp Hộ dịch sang Hán)
Ta từng nghe Phật dạy như vầy:
Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,
Xá Vệ thành, Kỳ Thọ viên trung,
Mục Liên chứng đặng lục thông,
Muốn cho cha mẹ thoát vòng trầm luân.
Công dưỡng dục thâm ân mong trả,
Nghĩa sanh thành đạo cả nguyện đền,
Làm con hiếu hạnh làm nền,
Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tầm.
Thấy vong mẫu đọa thân ngạ quỷ,
Không uống ăn tiều tuỵ hình dung,
Mục Liên thấy vậy đau lòng,
Biết rằng mẹ khổ đói nung triền miên.
Ngài vội vã phẩm duyên dâng mẹ,
Đỡ lòng bà khốn khổ bao năm,
Thấy cơm mẹ rất lo thầm,
Tay che giữ chặt, vội cầm để ăn.
Vì tâm bỏn xẻn xưa chưa dứt,
Sợ quỷ thần tranh cướp phần cơm,
Cơm đưa chưa tới miệng nom,
Bỗng thành than lửa, chẳng còn ăn chi.
Mục Liên thấy thảm bi sầu khổ,
Liền quay về bạch Phật Thế Tôn,
Xin Ngài chỉ dạy pháp môn,
Cứu mẹ thoát khỏi nghiệp oán nhiều đời.
Phật liền bảo: “Tội kia sâu nặng,
Một mình ông chẳng thể giải ra.
Dầu cho thần lực rộng xa,
Cũng không thể cứu, phải nhờ chúng Tăng.
Ngày rằm tháng bảy rằng Tự tứ,
Chư Thánh hiền nhóm đủ mười phương,
Nếu ông sắm sửa cúng dường,
Thức ăn, giường nệm, hương hương tinh cần.
Dâng chí kính, chúng Tăng thọ dụng,
Công đức này cha mẹ siêu thăng,
Hiện tiền song thân an khang,
Bảy đời cha mẹ lìa đàng khổ đau.
Ấy chính thật Vu Lan Bồn pháp,
Độ cha mẹ thoát nghiệp trầm luân,
Phật tử ghi nhớ ân cần,
Thường đem hiếu hạnh đáp ân song đường.
Nghe Phật dạy Mục Liên vui mừng,
Cùng bốn chúng phát lòng phụng hành,
Hiện thân báo hiếu song thân,
Cũng nguyện cứu khổ muôn dân quần sinh.
Nam mô Đại hiếu Mục Liên Bồ-tát (3 lần).
The Ullambana Sūtra
Thus have I heard.
At one time, the Buddha was dwelling in the Garden of the Jetavana Monastery, in the country of Śrāvastī. At that time, the venerable Mahā-Maudgalyāyana had just attained the six spiritual penetrations. Wishing to repay the kindness of his parents, he used his heavenly eye to observe the world. He saw that his deceased mother had been reborn among the hungry ghosts. She had no food or drink and her body was skin and bones.
Mahā-Maudgalyāyana, filled with sorrow, quickly went to prepare a bowl of food and offered it to his mother. But when she received the bowl, the food immediately burst into flames and turned into burning coals. She could not eat it. Mahā-Maudgalyāyana cried out in grief and, distressed, went to the World-Honored One to ask for guidance.
The Buddha said to Mahā-Maudgalyāyana:
“Your mother’s offenses are deep and grave. You alone do not have sufficient power to rescue her. Even though your filial devotion shakes heaven and earth, the spirits of heaven, the earth deities, and ordinary men cannot save her. You must rely on the united strength of the assembly of monks of the ten directions, their pure practice of the precepts, and their awesome spiritual power. Only then can your mother be released from suffering.”
The Buddha instructed:
“On the fifteenth day of the seventh month, when the sangha completes their summer retreat, you should prepare offerings of food and drink, fine robes and bedding, incense, lamps, and other necessities, and place them in the Ullambana vessel. Present these as offerings to the assembled monks of the ten directions. On that day, all the monks will concentrate their minds in samādhi and recite blessings. The power of the great sangha will cause your present parents, as well as seven generations of your ancestors, to be liberated from the three evil paths. They will be reborn among the heavens, enjoying blessings and happiness without measure.”
The Buddha further said:
“Disciples of the Buddha should, with compassionate hearts, prepare Ullambana offerings on behalf of their parents from seven generations past, as well as for parents of the present life, whenever they are still alive. By doing so, they will enjoy a life of one hundred years, free from illness and suffering. Their clothing and food will be abundant, and they will have joy and prosperity without measure.”
When the Buddha finished speaking, the great assembly of monks, including Mahā-Maudgalyāyana, all rejoiced. They accepted and faithfully practiced these instructions.
10. (22) Chuyện Mẹ của Ưu-đa-la
(Uttaramātu)
Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, vào thời kỳ kết tập Kinh điển lần thứ nhất, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên (Mahākaccāyana) cùng mười hai vị Tỷ-kheo cư trú trong một khu rừng gần thành Kiều-thưởng-di (Kosambī).
Khi ấy, Ưu-đa-la (Uttara), con trai và người kế thừa của vị đại thần trong triều vua Ưu-đà-diên (Udena), cùng thợ mộc đi tìm gỗ để sửa sang dinh thất. Tình cờ gặp Tôn giả, ông được nghe thuyết pháp. Từ đó, ông thường đến cúng dường và sau dựng lên một ngôi tinh xá dâng tặng.
Thế nhưng, mẹ của Ưu-đa-la (Uttara) lại sinh lòng bất mãn, bà buông lời nguyền rủa:
“Bất cứ thức ăn thức uống nào con dâng cho Sa-môn mà không có sự đồng ý của ta, nguyện cho tất cả biến thành máu đỏ trong đời sau của con!”
Tuy nhiên, vào ngày khánh thành tinh xá, bà vẫn cho phép dâng một bó lông đuôi công. Nhờ chút phước nhỏ nhoi ấy, sau khi chết bà tái sinh làm nữ ngạ quỷ (petī), có mái tóc đen huyền, dài, óng ả, buông xõa che thân. Nhưng mỗi khi bà bước xuống sông Hằng, định uống nước, thì dòng sông liền biến thành máu đỏ tanh hôi.
Trải qua năm mươi lăm năm lang thang trong đói khát, một hôm bà gặp Tôn giả Cù-ca-lợi-bạt-đà (Kankhārevata) đang nghỉ trưa bên bờ sông Hằng. Cuộc đối thoại ấy được chư vị kết tập ghi lại trong những bài kệ như sau:
Kệ dẫn chuyện
Một Tỷ-kheo an nghỉ,
Ngồi bên bến sông Hằng,
Một nữ quỷ hình rợn,
Rụt rè bước đến gần.
Mái tóc dài chấm đất,
Buông che phủ cả thân,
Khoác áo bằng tóc rối,
Thưa Sa-môn ân cần.
Lời nữ ngạ quỷ
“Năm mươi năm qua mất,
Từ khi con lìa đời,
Không hề ăn uống được,
Khát cháy dạ, mong ngài.”
Lời Tỷ-kheo
“Đây sông Hằng mát ngọt,
Chảy xuống tự Tuyết Sơn,
Hãy múc lên mà uống,
Cớ sao ngươi cầu xin?”
Lời nữ ngạ quỷ
“Bạch Tôn giả, xin thưa,
Nếu chính con múc lấy,
Dòng sông liền hóa máu,
Nên con phải cầu ngài.”
Lời Tỷ-kheo
“Do tội gì khi trước,
Bởi thân, khẩu hay ý,
Mà nay tay ngươi chạm,
Nước hóa máu tức thì?”
Lời nữ ngạ quỷ
“Con trai con, Ưu-đa,
Một cư sĩ thuần tín,
Thường cúng dường Sa-môn,
Áo, thực phẩm, thuốc men.
Lòng xan tham thúc giục,
Con liền mắng con rằng:
‘Cái gì trái ý mẹ,
Ngươi đều đem cúng dâng.
Này Ưu-đa, vật ấy,
Đời sau hóa máu ngay!’
Chính lời nguyền ác ấy,
Nên sông máu chảy hoài.”
Kết cuộc
Nghe vậy, Tôn giả Revata bèn thay bà cúng dường nước lên Tăng chúng, rồi hồi hướng công đức cho bà. Sau đó, ngài đi khất thực, mang thức ăn thu được cúng dường Tăng đoàn. Ngài còn nhặt giẻ rách, giặt sạch, phơi khô, may thành y phục dâng lên chư Tăng.
Nhờ phước báu ấy, nữ ngạ quỷ liền thoát khổ, được tái sinh làm thiên nữ, hưởng an lạc nơi cõi trời. Bà hiện thân, trình bày với vị Trưởng lão và bày tỏ niềm hạnh phúc nhiệm mầu mà bà đã đạt được.
10. The Story of Uttara’s Mother
(Uttaramātupetivatthu – Petavatthu, Ubbari Chapter)
Scene
Beside the Ganges’ bank,
a monk was sitting still.
A ghost appeared before him—
so dreadful, harsh to see.
Her hair was long, unending,
sweeping upon the ground,
covering her whole body.
She spoke to the recluse:
The Ghost Speaks
“For fifty-five long years
since death has taken me,
I’ve never tasted water,
nor any food or drink.
Venerable sir, I beg you,
give me a little water.
I suffer from burning thirst,
my throat is parched with fire.”
The Monk Replies
“Here flows the cool Ganges,
born of Himalaya’s snow.
Drink freely, take what you wish—why ask me for water?”
The Ghost Explains
“O Blessed One, if I take it
myself from the river’s stream,
it turns at once into blood.
Therefore I beg from you.”
The Monk Inquires
“What evil act was done—
by body, speech, or mind?
By what karmic result
does Ganges turn into blood?”
The Ghost Confesses
“I had a son named Uttara,
faithful, devoted, true.
He offered robes and food,
bedding, lodging, requisites—
to monks against my will.
Consumed with greed and anger,
I mocked him cruelly:
‘What you give without my leave—robes, alms, and lodging too—
may all become blood for you,
Uttara, in lives to come!’
By the fruit of that harsh deed—
both adultery of mind and lie of tongue—
this curse has bound me down.
Thus for me the Ganges’ waters
become nothing but blood.”
Thus ends the tenth story, the Tale of Uttara’s Mother.
SÁM VU LAN BÁO HIẾU
Lời mở đầu
Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
Hôm nay, đệ tử chúng con, chí thành đảnh lễ, dâng nén hương lòng, hướng về mười phương Tam Bảo, trước điện Phật trang nghiêm, phát lộ tâm thành, dâng lời sám nguyện.
Sám Văn
Ơn cha nghĩa mẹ,
Tựa biển, như trời.
Nuôi con gian khổ,
Bao nỗi chơi vơi.
Công cha như núi Thái,
Nghĩa mẹ tựa nước nguồn.
Một đời lo nhọc nhằn,
Chỉ mong con khôn lớn.
Nhớ công cha, nhớ nghĩa mẹ,
Chúng con dâng trọn tấm lòng.
Hôm nay mùa Vu Lan thắng hội,
Dâng hương hoa, tụng niệm kinh cầu.
Ngưỡng mong mười phương Tam Bảo,
Chứng minh lòng hiếu thảo của hàng con cháu chúng con.
Kệ phát nguyện
Nguyện nhờ công đức này,
Cha mẹ còn tại thế,
Được sống lâu an lành,
Thân tâm thường khang kiện.
Cha mẹ đã quá vãng,
Siêu thoát khỏi u đồ,
Vãng sinh miền Tịnh Độ,
Hoa sen nở Liên trì.
Nguyện cho khắp pháp giới,
Chúng sinh đồng siêu thoát,
Đồng viên thành Phật đạo,
Đồng chứng quả Bồ-đề.